MÔ TÊ RĂNG RỨA

Là nơi cung cấp nước chè xanh và kẹo cu đơ

MỘT LẦN TỚI GIA LAI

Posted by CU MÔ trên 26.03.2010

Ghi chép của Nguyễn Ngọc Đức

Nói về Gia Lai, người ta không chỉ nhắc đến những lễ hội cồng chiêng, lễ hội đâm trâu, cơm mới của người Ê Đê, Ba Na, Ja Rai, Giẻ Triêng, hay Câu lạc bộ Bóng đá Hoàng Anh – Gia Lai. Bây giờ nói tới Gia Lai, người ta không thể không nhắc tới những sản phẩm nổi tiếng, đó là cao su, cà phê và hồ tiêu. Thế mà chỉ cách đây chừng hơn hai thập kỷ, ngoài màu xanh của núi rừng, Gia Lai chỉ tồn tại một màu đất Bazan tung bụi đỏ trời vào những ngày gió lộng.

ĐẬM ĐÀ VĂN HOÁ BẢN ĐỊA

Hoa dã quỳ

Qua khỏi đèo An Khê, trước mắt chúng tôi là một khoảng không gian kỳ vĩ. Không ai nghĩ rằng mình đang ở trên độ cao 800 mét so với mặt biển,  địa hình Gia Lai hầu như bằng phẳng, bình nguyên trải dài tít tắp với những cánh rừng cao su, cà phê bạt ngàn. Dọc theo hai bên quốc lộ 14, hoa dã quỳ nở vàng rực, chúng tôi không ngớt trầm trồ trước vẻ đẹp kiêu sa nhưng đầy hoang dã của loài hoa được người Pháp đem sang trồng hồi giữa thế kỷ 19 khi bác sỹ Alexandre Yersin phát hiện ra cao nguyên Lang Biang (Lâm Đồng ngày nay) vào năm 1893. Tôi liên tục nâng ống kính máy ảnh bấm lia lịa để ghi lại sắc vàng lung linh huyền ảo của nó. Không rõ vẻ đẹp của loại hoa này mê hoặc lòng người đến độ nào, nhưng có biết bao truyền thuyết kể về hoa dã quỳ, các nhà văn, nhà thơ, nhạc sỹ cũng tốn nhiều tâm sức, giấy mực vì nó. Một minh chứng rõ ràng nhất, đó là dã quỳ đã “đánh bại” tất cả các “địch thủ” ở xứ sở ngàn hoa để được chọn làm biểu tượng chính cho lễ hội hoa diễn ra thường niên ở Đà Lạt. Tuy diễn ra từ lâu, nhưng âm hưởng của Festival cồng chiêng quốc tế diễn ra vào cuối năm /2009 vẫn như còn đọng lại trong lòng thành phố cao nguyên, trên những con đường uốn lượn nhấp nhô theo hình sóng là những tấm biểu ngữ nói về lễ hội, nơi đâu chúng tôi cũng bắt gặp những bức ảnh phóng to hình bà con các dân tộc Tây Nguyên đang gõ cồng chiêng. Ngay sau lễ hội, người ta còn tổ chức một cuộc Hội thảo về “Bảo tồn và phát huy văn hoá cồng chiêng” Nhưng điều đáng nói là bản sắc bản địa ở đây được duy trì và giữ gìn một cách trân trọng và không mang tính hình thức. Tại các giao lộ của thành phố đều xây dựng những bức phù điêu mang đậm nét văn hoá Tây Nguyên, thấp thoáng trong những công trình đồ độ với kiến trúc hiện đại của thành phố đang phát triển, chúng tôi vẫn bắt gặp những nét văn hoá bản địa truyền thống, đó là những mái nhà rông, những ngôi nhà của đồng bào Ê Đê, Ba Na, Giarai, Giẻ triêng…Tại Công viên Đồng Xanh cách thành phố Pleiku khoảng 4 km, du khách sẽ được chiêm ngưỡng vườn tượng bằng gỗ phản ánh đời sống lao động, tâm linh thậm chí cả sinh hoạt tình dục của người Ê Đê, được tham quan mô hình nhà rông, các dụng cụ sinh hoạt, lao động của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Có cảm giác như ở Gia Lai, bất cứ một vật thể gì cũng gắn liền với một truyền thuyết. Ngay cái tên Pleiku cũng vậy, chuyện kể rằng một ngày nọ, người cha cảm thấy trong người yếu mệt nên gọi hai người con trai tới, và truyền rằng sẽ tổ chức một cuộc thi săn bắt, nếu ai thắng cuộc sẽ được thay cha cai quản đất đai. Kết cục phần thắng thuộc về người em. Sau khi cha mất, người em tiếp quản vùng đất của cha để lại và lập thành một làng đặt tên là Pleiku. Theo tiếng Ê Đê, “Plei” có nghĩa là làng, còn “ku” là người em. Pleiku tức là “Làng của người em”.

Điều đáng trân trọng là mặc dù đời sống hiện đại đang phát triển mạnh mẽ trên vùng đất Tây Nguyên, nhưng các phong tục tập quán như lễ hội đâm trâu, lễ mừng cơm mới, lễ bỏ mả, tạc tượng nhà mồ . Các loại nhạc cụ như đàn T’rưng, K’rông pút, K’ni, Alal, cồng chiêng…; các điệu múa, diễn ngâm như trường ca Đam San, Xinh Nhã…là những nét văn hoá mang đậm nét đặc sắc Tây Nguyên vẫn được Gia Lai bảo tồn, duy trì và gìn giữ.

Du khách không chỉ bị chinh phục về một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, đến Gia Lai người ta còn phải trầm trồ trước sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế của một vùng đất cách đây chưa lâu vẫn còn nghèo nàn và lạc hậu.

HUYỀN THOẠI ĐAM SAN

Ngợi ca Đam San

Đi suốt trên Quốc lộ 14 rồi chuyển sang Quốc lộ 25 thuộc địa phận tỉnh Gia Lai, chúng tôi không khỏi trầm trồ khi nhìn thấy dọc hai bên những con đường này, cao su được trồng bát ngát. Cảm giác như cao su ở đây được trồng tới…tận chân trời, vì chiếc xe ô tô của chúng tôi đi mãi vẫn chưa hết những cánh rừng cao su như được nối dài vô tận, nhìn mãi vẫn không thấy được điểm cuối của rừng cao su như rộng đến khôn cùng. Qua tìm hiểu chúng tôi biết toàn tỉnh hiện có gần 77.000 ha cao su. Theo quy hoạch tổng thể, đến năm 2015, diện tích cao su của Gia Lai sẽ là 120.000 ha và năm 2020 sẽ là 135.000 ha. Một con số quả là ấn tượng. Càng thôi thúc mạnh mẽ hơn, khi chúng tôi tới tham quan Công ty Cao su Mang Yang. Chỉ là một đơn vị trực thuộc Tổng Công ty Cao su Việt Nam, nhưng diện tích cao su thuộc sở hữu của Công ty lên tới 8.000 ha, tổng sản lượng khai thác mỗi năm bình quân 7.700 tấn, tổng doanh thu 285 tỷ đồng và tổng lợi nhuận đạt 53,4 tỷ. Có thể nói chúng tôi hoàn toàn bị chinh phục khi tới Chư Sê là huyện giàu thứ nhì của tỉnh. Với 22 xã, 2 thị trấn, dân số 164.642 người sinh hoạt và lao động trên một diện tích tự nhiên là 135.991 ha, nhưng Chư Sê đã khẳng định vị trí một “con rồng” của Gia Lai, chỉ đứng sau thành phố Pleiku trong con mắt ngưỡng mộ của du khách trong và ngoài nước. Tổng giá trị sản xuất đạt 1.800 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 14,1%, là đơn vị hành chính cấp huyện có tỷ lệ thu ngân sách Nhà nước trên 110 tỷ đồng/năm. Chư Sê giàu có nhờ phát huy được thế mạnh của ba thứ cây chủ lực của Tây Nguyên, đó là cao su, cà phê và hồ tiêu. Hàng năm ở huyện cực Nam này của Gia Lai sản xuất được 20.000 tấn cà phê nhân, 15.000 tấn cao su và 15.000 tấn hồ tiêu. Theo ông Nguyễn Văn Lành, Chủ tịch UBND huyện cho biết thì thế mạnh của Chư Sê lại chính là hồ tiêu. Mặc dù so với cà phê và cao su, hồ tiêu chỉ chiếm một diện tích “khiêm tốn” là 3.000 ha, bằng 6% so với diện tích nông lâm nghiệp toàn huyện, nhưng hồ tiêu đã mang lại khoảng 1.000 tỷ đồng mỗi năm cho địa phương. Tuy nhiên, “láng giềng” của Chư Sê là huyện Chư Pưh mới thực sự là “bé hạt tiêu” nhưng không thể xem thường về kinh tế. Đây là một huyện nhỏ mới được tách ra từ huyện Chư Sê, với diện tích tự nhiên gần 72.000 ha, dân số 54.890 người sống và lao động ở 9 đơn vị hành chính, nhưng người dân của huyện này đang sở hữu trong tay 1.000 ha tiêu, 4.000 ha cà phê và trên 4.000 ha cao su. Mỗi năm những cây kinh tế này mang lại cho địa phương ngót nghét nghìn tỷ đồng.

Công ty Cao su Mang Yang, các huyện Chư Sê, Chư Pưh chỉ là ba trong hàng loạt mô hình kinh tế của Gia Lai, như Công ty Cao su Chư Păh,  các huyện Krông Pa, Ayun Pa, Kbang, Iapa…Tất cả đã tạo cho nền kinh tế Gia Lai trở thành một bức tranh hoành tráng, năm 2009 tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt gần 8.000 tỷ đồng, GDP tăng 15,6%, GDP bình quân đầu người đạt 12,43 triệu đồng. Cảm giác như những gì mà kinh tế Gia Lai đạt được hôm nay được tiếp nối từ huyền thoại kể về chàng Đam San, từ một người nghèo khó, nhờ sức mạnh và lòng quả cảm đã trở thành tù trưởng của người Ê đê giàu có nhất vùng Tây Nguyên ngày trước.

TÌNH NGƯỜI VÀ ĐẤT

Thu hoạch hồ tiêu

Không phải bỗng dưng Gia Lai bây giờ trở thành chàng Đam San huyền thoại. Để có được như hôm nay, Gia Lai đã phải trải qua bao nhọc nhằn mới gắn kết được tình người với đất. Vào đầu thập niên 80 của Thế kỷ trước, nghĩa là cách đây hơn 20 năm, ngoài niềm tự hào về các lễ hội của các bộ tộc, Gia Lai hầu như không có gì ngoài gió và nắng. Điều đó đồng nghĩa với việc người dân Gia Lai nghèo, rất nghèo. Mặc dù lúc bấy giờ ở Gia Lai cũng có một số đồn điền cà phê, cao su của người Pháp và sau này là của người Mỹ để lại, nhưng không đáng kể gì so với nhiều triệu ha đất bỏ hoang. Khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, Gia Lai đã tìm được một hướng đi đúng, đó là ngoài việc phát huy tiềm năng sẵn có để phát triển du lịch, dịch vụ và tiếp tục duy trì bền vững một số cây, con truyền thống, thì việc phát triển các cây công nghiệp chủ lực như cà phê, cao su được lựa chọn như một cứu cánh để đưa kinh tế Gia Lai phát triển. Mãi tới năm 1986, người dân lao động nông nghiệp  ở Gia Lai lại càng thực sự đổi đời khi một số hộ dân du nhập cây hồ tiêu từ Quảng Bình, Vĩnh Linh vào trồng. Ban đầu cây hồ tiêu ở Gia Lai cũng “ngắc ngoải” như một số nơi khác trong cả nước, nhưng dần dà hồ tiêu Chư Sê của Gia Lai trở thành một thương hiệu nổi tiếng trên thị trường nội địa và quốc tế và cũng kể từ đó kinh tế Gia Lai ngoài những thế mạnh khác, còn tạo ra thế “chân kiềng” vững chắc giữa ba thứ cây, đó là cà phê-cao su-hồ tiêu. Ngoài 77.000 ha cao su, hiện nay Gia Lai có 75.000 ha cà phê và 5.050 ha tiêu. Chất lượng sản phẩm là điều không thể phủ nhận để ba loại cây chủ lực nêu trên mang lại tiềm lực kinh tế mạnh cho Gia Lai. Nhưng lại càng không thể phủ nhận được vai trò của các cấp uỷ Đảng, chính quyền Gia Lai trong việc chỉ đạo phát triển đúng hướng ba loại cây đó. Do phong tục tập quán, do tư tưởng sản xuất nhỏ nên không dễ dàng để bà con các bộ tộc ở Gia Lai chuyển từ du canh, du cư sang định canh định cư, từ quảng canh sang thâm canh, và từ trồng các loại cây nông nghiệp nhỏ sang trồng các loại cây công, nông nghiệp lớn. Ngoài công tác tuyên truyền vận động, Gia Lai đã vận dụng một chính sách hết sức mềm dẻo và mang lại lợi ích thực sự cho người dân. Để triển khai việc mở rộng diện tích trồng cà phê, cao su và hồ tiêu, UBND tỉnh Gia Lai đã chỉ đạo các doanh nghiệp liên quan đóng trên địa bàn cùng tham gia xây dựng phương án chăm lo đời sống tại chỗ cho người dân, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Ngoài việc đầu tư hàng trăm tỷ đồng để xây dựng đường giao thông nông thôn, hệ thống điện lưới, công trình cấp nước, trạm y tế, trường học…Điều mà Gia Lai thành công nhất trong việc huy động sức người sức của để phát triển kinh tế, đó là Tỉnh uỷ và UBND tỉnh Gia Lai luôn chủ trương sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ và yêu cầu các doanh nghiệp khi sản xuất, kinh doanh trên địa bàn nào thì ưu tiên hàng đầu là phải sử dụng lao động người của chính địa phương đó. Ngoài việc ký cam kết sử dụng lao động là người địa phương, các doanh nghiệp còn phải công khai việc tuyển dụng và bảo đảm mức sống bình quân cho người lao động. Chính nhờ chủ trương đúng đắn này, mà hiện nay ở Gia Lai trong số 390.000 lao động nông, lâm nghiệp thì có tới quá nửa tham gia trồng cao su, cà phê và hồ tiêu. Điều đáng nói là đội ngũ công nhân trong các công, nông trường phần lớn đều là con em của các bộ tộc ở Gia Lai. Ngoài việc tổ chức lại sản xuất, để tìm đầu ra cho sản phẩm, tỉnh Gia Lai còn chủ trương  thành lập các hiệp hội như Hiệp hội Cao su, Hiệp hội Cà phê và Hiệp hội Hồ tiêu, Hiệp hội chè, mía đường… Thành viên của các hiệp hội phần lớn là các doanh nghiệp tư nhân đóng trên địa bàn. Có thể nói đây là một chủ trương đúng đắn và hết sức khôn ngoan của tỉnh, vì các doanh nghiệp tư nhân đặc biệt năng động và nhạy bén trong việc nắm bắt thông tin thị trường để thu mua và tiêu thụ hàng hoá vừa có lợi cho mình, vừa có lợi cho người sản xuất mà địa phương vẫn thu được ngân sách. Bên cạnh đó, Gia Lai đặc biệt chú trọng việc quảng bá thương hiệu sản phẩm địa phương. Không phải tự nhiên mà hầu như tháng nào ở Gia Lai cũng tổ chức lễ hội, dù đó là lễ hội cồng chiêng, đâm trâu, cơm mới hay lễ hội cà phê, cao su, hồ tiêu…thì việc quảng bá thương hiệu những sản phẩm do Gia Lai sản xuất vẫn là ưu tiên hàng đầu của tỉnh và các huyện. Có thể nói một cách ngắn gọn rằng thành công về kinh tế nhờ hàng hoá của Gia Lai đảm bảo 3 yếu tố Vàng đó là Chất lượng-Mẫu mã và Giá cả. Nhưng để đạt được 3 yếu tố này, Gia Lai đã thực hiện được tốt “3 đúng”: Thực hiện đúng chủ trương chính sách,  sử dụng đúng người lao động và lựa chọn đúng thị trường tiêu thụ.

VĨ THANH

Giờ đây nói tới Gia Lai, không ai còn nghĩ rằng nơi đây chỉ là một vùng đất cao nguyên đầy nắng và chỉ tồn tại một màu đất Bazan tung bụi đỏ trời vào những ngày gió lộng. Cũng cái nắng ấy, cái gió ấy đã tạo nên sự gắn kết giữa tình người và đất để biến màu đất bazan chỉ biết tung bụi ngày nào trở thành một kho tàng vô tận về kinh tế và văn hoá bản địa. Chàng Đam San dũng mãnh đang bước những bước đi dài để mang lại cho đồng bào các dân tộc ở đây một cuộc sống phồn vinh.

Advertisements

2 phản hồi to “MỘT LẦN TỚI GIA LAI”

  1. Như Mai said

    Đôi khi thầm ganh tị với NNĐ, anh được trải nghiệm nhiều, được cảm nhận nhiều, được đi đây đó nhiều, và chính vì thế anh viết rất khoẻ, viết rất hay và giàu tính thời sự, giàu nguồn thông tin. Cảm ơn về một bài viết rất có giá trị, em được hiều thêm nhiều hơn một vùng đất rất đẹp nơi em chưa bao giờ đặt chân tới.

  2. Hy vọng một ngày nào đó NM về thăm quê và sẽ có dịp đến thăm vùng cao nguyên đầy nắng gió nhưng cũng đầy chất thơ để NM có cảm hứng sáng tác!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: