MÔ TÊ RĂNG RỨA

Là nơi cung cấp nước chè xanh và kẹo cu đơ

NƯỚC NON NGÀN DẶM (QUẢNG TRỊ YÊU THƯƠNG)

Posted by CU MÔ trên 16.04.2010


Nhân kỷ niệm 35 năm ngày chấm dứt cuộc chiến, thống nhất hai miền, moterangrua xin gửi tới pàkon một vài hình ảnh về khu vực trước đây là giới tuyến tạm thời. Mong sao, trên đất Việt thân yêu đừng bao giờ có chiến tranh, để những người da vàng máu đỏ yêu thương nhau, cùng chung xây cuộc sống.

Những hình ảnh ni cũng để dành tặng bạn Như  Mai, hiện là giáo viên ở Tây Úc và những ai vốn là người gốc Quảng Trị yêu thương đang sống xa quê!

Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.

Cây cầu Hiền Lương chia cắt đôi bờ sông Bến Hải đã trở thành một chứng tích lịch sử về công cuộc kháng chiến vinh quang, hào hùng nhưng đầy gian khó của nhân dân Việt Nam.


Một đoạn sông Bến Hải


Sông Bến Hải đoạn trên thượng nguồn có tên là sông Rào Thanh, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn chảy đến Cửa Tùng dài khoảng 100km. Lòng sông nơi rộng nhất khoảng 200m, tại vị trí cầu Hiền Lương rộng 170m.

Đầu tiên cầu Hiền Lương được xây dựng bằng gỗ dành cho người đi bộ vào năm 1928. Sau nhiều lần sửa chữa nâng cấp, năm 1952, Pháp xây lại cầu bằng bê tông cốt thép gồm 7 nhịp và mặt cầu được lát bằng 894 miếng ván gỗ thông với chiều dài 178m.

Theo Hiệp định Geneve 1954 về Việt Nam: sông Bến Hải và vĩ tuyến 17 được chọn làm giới tuyến quân sự tạm thời và cầu Hiền Lương bắc qua sông cũng chia làm hai nửa.

Cho đến đại thắng mùa Xuân 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, giới tuyến này chính thức bị xóa và đến năm 1995, Bộ Giao thông Vận tải quyết định nâng cấp Quốc lộ 1A, xây lại cầu mới ngay trên tuyến cầu cũ với vốn đầu tư gồm 40 tỷ đồng.

Cột cờ giới tuyến phía Bắc

Ngày 10-8-1954, cột cờ đầu tiên được dựng giữa sân của đồn công an vũ trang giới tuyến Hiền Lương. Cột cờ làm bằng gỗ cao 16m, lá cờ may bằng sa tanh đỏ rộng 24m2.

Thời điểm bấy giờ hai cột cờ ở hai đầu cầu giới tuyến là cuộc đọ sức đầu tiên của hai bên ở khu phi quân sự. Bên này cột cao hơn thì bên kia lại nâng cao thêm một vài mét, bên này cờ to hơn thì bên kia phải làm cờ to hơn nữa.

Tháng 4-1956 Chính phủ  VNDCCH cho xây cột cờ lớn và kiên cố bằng thép ống cao 34m, trên đỉnh gắn một ngôi sao bằng đồng đường kính 1,2m với hệ thống 15 bóng đèn loại 500W, lá cờ có kích thước 134,4m2 (9,6x14m).


Năm 2005, bên dòng sông Hiền Lương,  kỳ đài mới được  xây thuộc cụm di tích đôi bờ Bến Hải, một cột cờ như xưa (được phục chế nguyên trạng, độ cao 38,5m).

Lô cốt đầu cầu phía Bắc

Đồn công an vũ trang phía Bắc


Theo hiệp định Geneve, dọc hai bên bờ sông giới tuyến quân sự tạm thời có 4 đồn cảnh sát đóng ở các nơi: Hiền Lương, Cửa Tùng (bờ Bắc), Xuân Hòa và Cát Sơn (bờ Nam).

Đồn công an Hiền Lương nằm cạnh cầu phía Bắc. Đồn gồm 3 khu nhà: A, B, C tạo thành chữ V. Nhà A được xây dựng từ năm 1955. Đây là nơi đặt trụ sở chỉ huy của công an bờ bắc. Nhà B là nơi để ở và sinh hoạt của các chiến sỹ công an giới tuyến. Nhà C là nơi làm kho hậu cần. Đồn Hiền Lương có 2 tiểu đội (16 người) thuộc lực lượng công an vũ trang. Đây cũng là nơi để tiếp các đoàn khách quốc tế và khách trong nước…

Đồn công an Cửa Tùng đóng ở bãi biển xã Vĩnh Quang (bờ Bắc). Đồn có nhiệm vụ kiểm soát ngư dân của hai bờ ra vào Cửa Tùng. Đồn có 16 người thuộc lực lượng công an vũ trang.

Lô cốt Xuân Hoà phía Nam

Đồn Xuân Hòa (bờ Nam) do cảnh sát VNCH đóng. Đồn này tận dụng lại bốt cũ của Pháp xây năm 1954.


Đồn Cát Sơn đóng ở làng Cát Sơn (bờ Nam). Đồn có 16 người thuộc lực lượng của cảnh sát VNCH. Đồn Cát Sơn có nhiệm vụ kiểm soát ngư dân 2 bờ ra vào.


Đến năm 1965, khi Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc thì hệ thống đồn bốt dọc 2 bờ sông Bến Hải tan rã…

Địa đạo Vịnh Mốc

Những mầm sống sinh ra trong lòng địa đạo

Một địa đạo do cán bộ chiến sĩ đồn 140 đào, một của dân quân Vịnh Mốc đào, cái còn lại của dân quân thôn Sơn Hạ. Ban đầu đây là ba địa đạo riêng lẻ, nhưng sau đó do yêu cầu phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu nên cả ba địa đạo được nối thông với nhau thành một hệ thống liên hoàn dài hàng cây số, nhiều tầng sâu khác nhau và có 13 cửa, trong đó có bảy cửa thông ra biển và sáu cửa thông lên đồi. Chưa kể chạy quanh địa đạo là hệ thống hào giao thông dài 8.200m.

Điều đặc biệt trong hệ thống hơn 100 địa đạo – làng hầm ở Vĩnh Linh là các tầng ngầm với độ sâu khác nhau: tầng 1 dành làm nơi sinh sống của đồng bào; tầng 2 là nơi đóng trụ sở của đảng ủy – ủy ban và ban chỉ huy lực lượng vũ trang; tầng 3 chính là kho hậu cần, vị trí an toàn nhất cất giữ hàng ngàn tấn hàng hóa, vũ khí đạn dược đưa từ hậu phương miền Bắc vào cất giữ, rồi từ đây đêm đêm theo thuyền ra tiếp tế chi viện cho đảo Cồn Cỏ và  bờ nam…

Cửa Tùng


Cửa Tùng nằm  trong thôn An Đức, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Linh thuộc tỉnh Quảng Trị. Từ Đông Hà đến bãi biển dài cỡ 30km về phía Bắc, rồi thêm 10km nữa từ Cổ Mễ rẽ vào là tới. Con đường quốc lộ trải dài đến tận bãi biển. Từ trên cao, đã có thể nhìn thấy bãi cát cong vòng hình cánh cung của Cửa Tùng. Bãi biển trải dài chừng 1km với bờ cát phẳng lặng với độ dốc thoai thoải và làn nước trong xanh. Hai bãi đá ngầm ăn sâu ra biển từ hai phía là Mũi Si và Mũi Lai đã tạo nên một cái vịnh nhỏ kín đáo và không có các dòng hải lưu cuốn xoáy tạo cho Cửa Tùng một vị thế an toàn trên biển.

Cửa Tùng còn lưu giữ nhiều dấu ấn lịch sử. Xưa, khâm sứ Trung Kỳ Brière là người thích phong cảnh Cửa Tùng, khi đi hành hạt ở đây, ông đã cho xây dựng một nhà nghỉ mát của tòa khâm năm 1896. Năm 1907, vua Duy Tân lên ngôi. Vốn là một người không chịu tù túng trong cung cấm dưới sự khống chế của thực dân Pháp, vừa thích đi nhiều nơi, trong đó có đến Cửa Tùng. Người Pháp đã nhường nhà nghỉ mát của tòa khâm cho nhà vua ngự. Từ đó, nhà nghỉ mát này có tên là: nhà Thừa Lương Cửa Tùng. Pháp còn cho lập bưu điện và sở thương chánh ở Cửa Tùng để phục vụ khách du lịch. Cho đến đầu năm 1942, hai sở này vẫn còn hoạt động.

Làng Vây

Tượng đài chiến thắng Làng Vây của binh chung Tăng Thiết giáp

Làng Vây là cứ điểm mạnh trên tuyến phòng thủ đường 9 , có hệ thống công sự, hầm ngầm kiên cố, do 4 đại đội biệt kích và thám báo Quân đội VNCH đóng giữ.

Là trận tiến công của Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304) được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 2 (Trung đoàn 101, Sư đoàn 325), Tiểu đoàn pháo binh 2 (Trung đoàn 675), 2 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn xe tăng (thiếu), 2 đại đội đặc công, 1 đại đội súng máy phòng không, 1 trung đội súng phun lửa, đánh cứ điểm làng Vây, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị, trong đợt 1 chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh (20/1-15/7/1968). Vào 23 giờ 30 phút ngày 6/2, sau khi dùng pháo binh chế áp, quân giải phóng thực hành tiến công, kết hợp bộ binh, đặc công, xe tăng đột phá cứ điểm từ 3 hướng ( nam, tây bắc và đông bắc). 1giờ 5 phút ngày 7/2,  chiếm được khu trung tâm, từ 3 giờ 30 phút đánh chiếm xong các khu vực, tiến hành truy quét, gọi hàng binh lính đối phương lẩn trốn trong các hầm ngầm, đến 10 giờ, quân giải phóng làm chủ cứ điểm.
Trận làng Vây là trận then chốt của chiến dịch đường 9- Nam Lào, lần đầu tiên quân giải phóng sử dụng xe tăng tiến công đối
phương phòng ngự trong công sự vững chắc.

Chợ Lao Bảo


Lao Bảo là một trong những khu kinh tế cửa khẩu quan trọng nhất của Việt Nam nằm tại khu vực cửa khẩu Lao Bảo. Cửa khẩu Lao Bảo là một cửa khẩu của Việt Nam trên đường biên giới giữa Việt Nam và Lào, thuộc huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Đối diện với cửa khẩu quốc tế Lao Bảo ở bên kia đường biên giới là cửa khẩu Den Savanh của Lào. Cửa khẩu Lao Bảo nằm trên quốc lộ 9 từ Đông Hà sang Lào, cách thị xã Đông Hà khoảng 80 km, và ngay cạnh sông Sepon. Đối diện với Khu kinh tế – thương mại đặc biệt Lao Bảo qua đường biên giới là Khu thương mại biên giới Den Savanh của Lào. Hai khu này là một nút quan trọng trên Hành lang kinh tế Đông – Tây.

Chợ Lao Bảo cách thị xã Đông Hà khoảng 84km. Là một Trung tâm thương mại lớn thu hút nhiều khách du lịch đến đây không chỉ mua sắm mà còn để tham quan những địa danh nổi tiếng một thời trong chiến tranh như : đường 9 Nam Lào, Khe Sanh…..

Và cuối cùng tui cũng nghé vô một tí để khoe với pàkon rằng tui đã đến nơi đây. Hình chụp ngược sáng nên trông đen thùi lùi như  Satan trong cuốn Tây Du Ký he he

Advertisements

20 phản hồi to “NƯỚC NON NGÀN DẶM (QUẢNG TRỊ YÊU THƯƠNG)”

  1. ha linh said

    Tui và bố của các con tui đi cái địa đạo nớ rồi đó MR? nhưng dạo đó chưa có tượng vậy đâu

  2. Chắc HL đi lâu rồi vì “Tui và bố của các con tui đi cái địa đạo nớ rồi đó MR” Chứng tỏ hồi nớ hai người đang “iêu” mà chưa có “các con tui..”. Rứa bây giờ đã có “các con tui” rồi thì quay lại một lần nữa mà coi tượng, đồng thời ôn lại thời đang “iêu” nha.

  3. Hồi nớ cưa ra răng chừ truyền đạt kinh nghiệm lại cho tui học tập với

  4. Như Mai said

    Tui canh dữ lắm mờ khôn bắt được cấy tem, hihi. Chỗ mô trên đây tui cũng khôn nhớ đã đi qua chưa, lúc đó tui còn nhỏ xí. Mấy tấm hình ni chắc làm O HL dớ dà lắm đây.
    Nói tới cầu Hiền Lương mần tui dớ tới mấy câu thơ của Vũ Hoàng Chương:
    “Hẹn một ngày trở lại cố đô
    Lưỡi lê no máu rửa Tây Hồ
    Trên đài chí sĩ bàn tay vẫy
    Đại định non sông một bóng cờ”

    Những câu thơ Vũ thi sĩ làm năm 1954 dâng Ngô “chí sĩ” bấy giờ đang đòi “Bắc tiến” và lớn tiếng hô hào “lấp sông Bến Hải”, -một kiểu trấn an chính trị mà thôi. Hồi ấy, miền Bắc chủ trương “hoà bình thống nhất đất nước”; ngay lúc bấy giờ mà tổng tuyển cử trên cả nước theo đúng hiệp định Giơ-ne-vơ thì, với uy tín của cụ Hồ và hào quang của cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, ai thắng ai bại coi như đã biết trước. Do sự “trớ trêu” của lịch sử mà phải hơn hai mươi năm sau cầu Hiền Lưong mới “liền nhịp” trở lại. Cũng khó mà lường được sự rủi may lịch sử! (cấy ni khôn phải tui viết mô nghe, tui cọp pi đóa)
    Cảm ơn NNĐ nhé. Mỗi bài một tấm chân dung dư ri là bảo đảm khôn còn ở giá lâu mô, phải khôn O HL hè?

    • ha linh said

      Ôi O Như Mai dùng cái từ “ở giá” mà tui đau hết cả ruột, đẹp trai, trắng trẻo, tốt tính, viết cũng hay..rứa..mà ở quê tui không có tên phố Yết Kiêu mô, răng mà laij ri không biết?

  5. Dù sao thì cuộc chiến cũng đã ngưng 35 năm rồi, dù trên quan điểm nào đi nữa thì non sông cũng đã liền một giải. Tui nghĩ người Việt miềng cần xích lại gần nhau kể cả từ hai phía thì hơn. Bên mô cũng cứ giữ khư khư một quan điểm chủ nghĩa của mình thì biết đến khi mô dân mới giàu, nước mới mạnh được. Đương nhiên lịch sử là bất biến, không ai có thể bóp méo được, có chăng cũng chỉ là tạm thời mà thôi. Tui chỉ mong răng nước nhà ngày càng đi lên, dân miềng ngày càng ấm no hạnh phúc để cho mấy bà ở bên Nhật, bên Úc có nơi về mà thực hiện vai trò Việt kiều yêu nước he he.

    • ha linh said

      Tui nghĩ người Việt miềng cần xích lại gần nhau kể cả từ hai phía thì hơn. Bên mô cũng cứ giữ khư khư một quan điểm chủ nghĩa của mình thì biết đến khi mô dân mới giàu, nước mới mạnh được
      ——————
      Câu nói hay nhất trong ngày- cứ đà ni là anh Cưa sắp có tin vui đó!

  6. Chời, tin vui à, rứa thì tui chờ nha, mà lỡ không thấy tin vui đến thì răng?

  7. Bụt ơi Bụt khi mô thì tin vui đến rứa Bụt?

  8. ha linh said

    mấy bữa ni đi cưa xa phải không hè?

  9. Hơi xa hơi xa, nói rứa thôi hơi bận hơi bận

  10. Tui sẽ sang tui sẽ sang

  11. Tui sang rồi, núi lửa bên châu Âu ảnh hưởng ra răng mà “bay” sang khó quá, cái đường truyền cứ trục trặc luôn

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: