MÔ TÊ RĂNG RỨA

Là nơi cung cấp nước chè xanh và kẹo cu đơ

Về lại bản xưa

Posted by CU MÔ trên 30.05.2011

Ảnh minh hoạ (St)

Bài ni Mô viết đăng báo đã lâu, giờ lục lại thấy hay hay nên muốn bà con chia sẻ một chút lính và một chút “iu” của Mô đối với một cô bé người Tày ở Lào Cai thời Mô đóng quân ở đây!

Cuối xuân năm 1979, khi tiếng súng trên vùng biên giới phía Bắc tạm ngưng, Trung đoàn 149, thuộc Sư đoàn 356 Anh hùng của chúng tôi được cấp trên điều động về đồn trú canh phòng, huấn luyện và tăng gia sản xuất tại xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng, tỉnh Hoàng Liên Sơn ( nay là tỉnh Lào Cai ).

Những ngày đầu chưa kịp xây dựng doanh trại, chúng tôi được nhân dân các dân tộc ở đây đùm bọc, che chở. Lúc bấy giờ, tôi là chiến sỹ Trung đội 1, Đại đội 7, tiểu đoàn 8 bộ binh. Trung đội chúng tôi gồm hơn hai chục chiến sỹ được phân công về ở tại gia đình vợ chồng anh chị Lý Văn Chàng và La Thị Sáu ở thôn Tả Thàng. Gọi “anh chị” là do họ tự xưng hô như vậy, chứ thực ra tuổi của chúng tôi bấy giờ nếu không thuộc hàng con, thì cũng nằm trong hàng cháu.

Điều gây chú ý nhất với cánh lính trẻ là vợ chồng họ có cô con gái đầu lòng tên là Lý Thị Toan, mới 16 tuổi, da trắng mịn, mặt đẹp như trăng. Không hiểu tự lúc nào khi xưng hô với họ, thay vì gọi tên anh Chàng và chị Sáu; thì tôi lại cứ “anh Toan, chị Toan” mà gọi…Mỗi lần thế, cô con gái tròn trăng của họ lại nhìn tôi với cái nhìn lạ lắm. Nhưng mà chuyện này tôi sẽ kể sau!

Lại nói chuyện khi chúng tôi mới hành quân về đóng ở thôn Tả Thàng. Đây là một bản người Tày nằm ven giòng suối mà bà con gọi là Ngòi Bo. Lúc bây giờ bản có khoảng gần một trăm ngôi nhà sàn, người dân ở đây chủ yếu sống bằng nghề phát nương làm rẫy. Cứ sáng ra là họ lên nương, tối nhọ mặt người mới thấy họ về. Đàn ông thì lưng đeo bao dao, vai vác cuốc, đàn bà thì gùi một gùi lúa hoặc ngô. Nét mặt họ lúc nào cũng khắc khổ, đăm chiêu. Nhưng mà chuyện này tôi cũng sẽ nói sau!

Còn nhớ đêm đầu tiên ở bản, tuy không nói ra nhưng hầu như cả trung đội không ai ngủ được vì…sợ (?!) Tôi cũng không nằm ngoài số đó, lưng đeo 2 quả lựu đạn mỏ vịt và một con dao găm, tay ôm khư khư khẩu AK đạn nạp đầy băng trước ngực, hai mắt tôi mở thao láo, tai căng ra để nghe ngóng tình hình. Sợ thám báo lẻn vào thì ít, mà sợ cái gì đó cứ lúc lúc lại vang lên “à…ào…phị…phịch” thì nhiều. Tiếng “ào…phịch” đều đều nghe có vẻ bí hiểm ma quái vô cùng giữa đêm trường lạnh vắng, bốn bề rừng núi hoang vu. Đến sáng ra mới hay, cái tiếng ma quái đó đơn giản chỉ là tiếng cối nước giã gạo. Đó là một dụng cụ rất phổ biến của bà con ở đây, thay vì có người đứng lên dẫm vào cần cối như ở miền xuôi, thì bà con có sáng kiến dùng sức nước để giã. Khi nước đầy gáo hứng, cần cối tự nâng lên, nước đầy tràn ra cần cối tự thả xuống, chẳng cần mất sức, tiện lợi vô cùng.

Lại nói chuyện “anh Toan, chị Toan”, họ thương bộ đội chúng tôi lắm. Hễ trong trung đội có ai bị ốm đau, cảm sốt là anh chị lo lắng chăm sóc. Chúng tôi đều là lính trẻ, nên anh chị cư xử theo cách của cha mẹ đối với con cái. Có điều gì không phải là anh chị bảo ban. Còn nhớ có một chiến sỹ vi phạm chính sách dân vận bị Trung đội trưởng khiển trách, anh chị đã đứng ra nhận lỗi thay. Điều đó khiến cánh lính chúng tôi xúc động lắm.

Đối với riêng tôi, anh chị lại có sự đối xử đặc biệt hơn một chút. Sau này mới hay, họ thương tôi bởi lẽ nhìn mặt tôi “búng ra sữa”, cũng đúng thôi vì vừa buông cây bút đã cầm ngay cây súng mà. Nhưng thương tôi hơn vì khác với đa số anh em trong trung đội vốn xuất thân là nông dân quen lao động, tôi lại là “dân cày đường nhựa”, chỉ cầm dao chặt vài cây nứa tay đã phồng rộp, ứa máu ra rồi, huống chi còn phải lên rừng đẵn gỗ về xây dựng doanh trại. Thấy tay tôi đau, anh Toan bảo “Để anh đi làm thay cho”. Thương thì nói vậy, chứ kỷ luật quân đội ai cho phép như thế.

Không giúp được cách này, thì họ giúp tôi cách khác. Thỉnh thoảng đi nương về, anh chị lại dúi cho tôi một quả dưa, thứ dưa vỏ khứa vàng, ruột đỏ to bằng quả dưa hồng, thơm mát và ngọt lịm, hoặc để phần cho tôi củ sắn, vắt xôi. Bây giờ nói điều này, chắc không sợ “phạm huý” nữa. Thực ra, hồi đó cả nước đang chìm đắm trong thời kỳ bao cấp, lại phải đương đầu với chiến tranh biên giới nên người dân ai cũng đói. Bộ đội chúng tôi lại càng đói hơn. Mỗi bữa ăn chúng tôi chỉ được gần hai bát cơm, hoặc một cục mì luộc to bằng quả cam sành. Thức ăn chủ yếu là măng nứa, chuối xanh cắt lát nấu với muối, sang lắm thì có miếng thịt lợn muối mặn chát thái mỏng như giấy…

Đang tuổi ăn, tuổi lớn nên cảm giác đói lúc nào cũng thường trực trong dạ dày, vậy nên nhớ lại củ sắn, vắt xôi của anh chị Toan cho cách đây hơn hai chục năm, tôi vẫn có cảm giác ngon mãi tới giờ ! Nói đúng hơn ngon thì ít, mà ơn thì nhiều. Cái ân nghĩa khi ngấm vào máu thịt khó phai lắm ! Mà nào anh chị có giàu sang chi. Hai vợ chồng với bốn đứa con lau nhau sống trong một ngôi nhà sàn, tài sản trong nhà chẳng có gì đáng giá, ngoài cái bếp giữa nhà có ông đầu rau lúc nào cũng bập bùng ánh lửa để đồ xôi, mấy bộ quần áo chàm của người Tày và một lá bùa treo ở vách. Bữa ăn của họ cũng hết sức đạm bạc. Lương thực chủ yếu là xôi hoặc gạo nương hạt cứng và dài, còn thực phẩm thì có gì ăn nấy.

Đồng bào ở đây không biết trồng rau, nên thường chế biến món “tóc đá” để ăn thay rau. Đó là một thứ rêu mọc trên những tảng đá giữa suối, bà con lấy về, giũ sạch cát, băm nhỏ với lá chanh, thêm ít muối, bọc vào lá chuối nướng lên. Cho tới giờ, khi viết những giòng chữ này, tôi vẫn có cái cảm giác bùi bùi, thơm thơm của món “tóc đá” được anh chị cho ăn hồi đó, và tôi vẫn có chút tự hào của riêng mình, chắc gì một số độc giả thân yêu của tôi đã được thưởng thức món ăn đó…

Tựu trung gia đình này rất nghèo, nhưng anh chị vẫn sống, vẫn nuôi lũ con và thương yêu bộ đội, thương yêu tôi như con cháu ruột thịt. Sau này, khi đã xây dựng xong doanh trại cách bản chừng một cây số, tôi vẫn thường qua lại gia đình anh chị, vẫn được anh chị cưu mang coi như người thân trong nhà, mỗi lần tôi ra chơi, anh chị lại lấy xôi cho ăn, hoặc cho ít gạo đem về “Khi nào “thép toọng” ( đói bụng – tiếng Tày – Tg ) thì ăn” như lời anh chị hay nói.

Lại nói về em Toan, con gái đầu lòng của anh chị. Cứ mỗi lần nghe tôi gọi bố mẹ của em là “anh, chị” em cứ mủm mỉm cười, khuôn mặt trái xoan với đôi mày lá liễu đặc trưng của con gái Tày cứ sáng ngời rồi ửng đỏ. Nước da con gái Tày trắng lắm, nhưng trong mắt tôi hình như nước da của em lại còn trắng hơn. Trong vạt áo chàm hai thân của con gái Tày, trông em lại càng mịn màng, nền nã…ấy là theo cảm tính mà nhận xét vậy thôi, chứ thực ra lúc bấy giờ tôi còn măng tơ, biết gì ! Hơn nữa, kỷ luật quân đội thời chiến vốn không phải trò đùa.

Hồi đó, em mười sáu, tôi ngoài đôi mươi; tuy là “chú cháu” nhưng mỗi khi vô tình ánh mắt chạm nhau thì hai đứa lại vội ngó lơ đi nơi khác, lúng túng một lúc nhưng không hiểu sao, ánh mắt lại cứ chạm nhau. Thật lạ ! Bố mẹ em thương tôi, hình như điều đó cũng khiến em quan tâm hơn tới “chú Đức”. Sự quan tâm cũng giản dị, chất phác thôi, ấy là khi nào đồ xôi em cũng dành lại một ít, mỗi khi đi nương về hái được quả ổi rừng, hay chùm dâu da em cũng cất dành cho tôi.

Một bận, tôi đang đứng ở cầu thang. Em đi nương về, lưng gùi lúa, trên tay cầm một cành hoa rừng, một tốp bộ đội đi huấn luyện qua, trông thấy em họ trêu, em cười lanh lảnh rồi chạy vù về nhà, qua chỗ tôi đứng, tiện tay em ném cành hoa vào người tôi. Tiếng cười và cành hoa làm tôi chết lặng ! Hơn hai chục năm rồi, nhớ lại cảnh đó, tôi vẫn thấy bâng khuâng.

Có lần em bị sốt rét người xanh như lá. Nhìn em rẩy run trong chiếc chăn chiên đã thủng lỗ chỗ, tôi như thấy chết một bên mình ! Tình quân dân giữa tôi với gia đình vợ chồng người Tày và cô con gái của họ chỉ mộc mạc, giản dị như thế nhưng mà nhiều lắm, như nước trên ngàn, như cây trên rừng không kể hết đâu…

Cuối Xuân năm 1982, tôi được xuất ngũ. Nghe tin tôi ra quân, một thoáng sững sờ trên khuôn mặt dãi dầu nắng mưa của anh chị. Anh Toan ngồi lặng lẽ một lát rồi bảo: “Hay là chú đừng về quê nữa. Ở lại đây làm nương với anh…!” Tôi không biết phải trả lời sao, đành nói thác đi rằng tôi con trai một, phải về để phụng dưỡng mẹ già. Suốt buổi tối hôm đó em chỉ lặng im, mắt đăm đăm nhìn bếp lửa hồng đang reo tí tích…

Gần tới giờ điểm danh, tôi cáo từ trở về doanh trại, khi tôi chào em không trả lời, nhưng khi tôi xuống cầu thang em theo tiễn và hỏi nhỏ : “Sao…chú…à…anh không ở lại đi nương với bố em ?” Cách xưng hô thay đổi ngôi thứ của em khiến tôi lại thêm một lần chết lặng !

*

*           *

Cơ quan tôi có tổ chức một đợt đi tham quan, giao lưu với một số báo bạn ở các tỉnh phía Bắc. Nhìn trong lịch trình chuyến đi có cả thăm báo Lào Cai. Tôi mừng lắm và năn nỉ xin đi. Nhẽ ra thời gian ở Lào Cai chủ yếu đoàn chúng tôi được báo bạn tiếp ở Sa Pa, cách thị xã Lào Cai chừng bốn mươi cây số. Nhưng khi nghe nguyện vọng của tôi, các anh chị trong đoàn đã hội ý và quyết định về nghỉ ở thị xã Lào Cai một buổi để tôi có cơ hội trở về thăm lại bản cũ, người xưa.

Anh Lê Minh Thảo, Phó Tổng biên tập báo Lào Cai là người Diễn Châu xứ Nghệ và cũng là cựu binh cùng mặt trận bảo vệ Phố Lu – Cam Đường với chúng tôi hồi đó; khi biết chuyện anh sốt sắng bố trí ngay một phóng viên ( không biết duyên số thế nào chàng nhà báo trẻ người gốc Hà Tây này cũng tên là Đức ) chở tôi bằng xe máy về Bảo Thắng, cách thị xã chừng 25 km.

Trên chặng đường đi, tôi thấy nao nao; vậy là tôi đã được trở lại mảnh đất này sau hơn 20 năm xa cách. Thị xã Lào Cai và thị xã Cam Đường thời chiến tranh hoang tàn, đổ nát giờ  được sát nhập để trở thành thành phố Lào Cai sầm uất, với những ngôi nhà cao tầng, cửa hàng cửa hiệu sáng choang, tấp nập kẻ bán người mua. Cầu Cốc Lếu, cầu Bến Đền hồi đó bị đánh sập giờ đã được xây lại đồ sộ, bề thế. Riêng cầu Bến Đền xưa chỉ là cầu treo, nay được xây dựng hiện đại có cả đường sắt đi qua.

Tôi lại càng nôn nao hơn khi xe đi trên con đường dẫn về Tả Thàng. Vẫn là con đường chạy men ngòi Bo ấy, hồi đó là một con đường đất lầy lội, giờ đã được rải nhựa phẳng phiu…Xe càng chạy sâu vào, tôi càng bâng khuâng tợn, những đồi cỏ rừng cây quen thuộc hiện ra trước mắt tôi, những bãi cát ven bờ, những tảng đá nhô lên giữa suối…tất cả vẫn vẹn nguyên như muôn đời vẫn thế.

Nhưng…sự nguyên vẹn thái quá cũng làm tôi buộc phải chú ý, chẳng lẽ hơn hai chục năm qua nơi này vẫn nguyên vẹn thế này sao ? Nếu như ở Lào Cai, Cam Đường, Phố Lu là một sự lột xác hoàn toàn, thì ở xã Bảo Thắng hầu như không thay đổi mấy, thậm chí tôi vẫn nhận ra sân vận động của trung đoàn với hai đầu cầu môn bằng tre ở đúng vị trí cũ, tôi vẫn nhận ra những bãi đất trống vốn hồi đó là doanh trại của các tiểu đoàn, đại đội…

Khi vào tới bản Tả Thàng thì quả thực sự ngỡ ngàng trong tôi tăng gấp bội lần. Có con đường nhựa xuyên qua bản để tới một công trình thuỷ điện nhỏ gần đó, nhưng giờ đây bản khác xưa nhiều. Những mái nhà sàn với làn khói lam quen thuộc năm xưa giờ chỉ còn lác đác vài mươi cái, thay vào đó là những ngôi nhà xây cấp 4, mái lợp ngói đỏ trông chả khác gì những làng ở miền xuôi.

Lòng chợt nhói đau khi tôi nghĩ tới cảnh những ngôi nhà sàn truyền thống bị bọn đầu nậu “mổ thịt” đem về xuôi kiếm lợi. Nghe đâu giá mỗi cái cả trăm triệu đồng. Tôi lại càng ngạc nhiên hơn khi thấy những cô gái, chàng trai Tả Thàng và cả người già không bận y phục Tày như xưa nữa, thay vào đó là những bộ quần áo may theo kiểu người Kinh. Người Việt ta thảy đều như nhau, nhưng cái bản sắc của mỗi dân tộc sao lại nỡ bỏ đi như thế ?

May thay, ngôi nhà sàn thân yêu năm xưa của tôi vẫn còn đó, tôi nhận ra ngôi nhà vì những đặc điểm sau mấy chục năm trời vẫn không hề thay đổi, cột gỗ, vách nứa, mái tranh… Vẫn là những khóm lúa trồng tỉa lỗ quanh nhà, vẫn là những khúc gỗ năm xưa vứt lăn lóc dưới sàn, chỉ có điều nó đã bị mòn theo năm tháng. Chiếc lò đất dùng để nấu rượu sắn vẫn không thay hình đổi dạng…

Thấy có khách tới một bà già ra đón. Tôi nhận ra ngay đó là chị Toan nhờ đôi mắt màu xám và một cục bướu nhỏ ở cổ. Trông chị già nua và buồn bã…Thấy chị không nhận ra mình, tôi hỏi “Chị có nhớ em không?”, chị lắc đầu “Chị không nhớ đâu”. “Thế chị có nhớ hồi trước bộ đội ở nhà chị không ?” Tôi hỏi. Chị đáp: “Có đấy ! Hồi đó bộ đội ở đây có chú Đức đấy…”. Tôi xúc động “Hồi đó chị thương ai nhất, chị quý ai nhất ?” Chị trả lời: “Chị thương, chị quý chú Đức”. Tôi oà lên: “Chị ơi…em là Đức đây”.

Chị dẫn tôi lên nhà. Chiếc cầu thang năm xưa sau lần sửa chữa được đổi hướng đôi chút nhưng vẫn khiến tôi nhớ tới hôm chia tay với cô con gái của anh chị cách đây hơn 20 năm…Bước vào nhà, tôi không khỏi mủi lòng, hơn hai chục năm rồi nhưng dường như anh chị vẫn nghèo như thế, vẫn những bộ quần áo vắt lòng thòng, lá bùa dán ở vách, chõ xôi ở trên bếp…Tài sản có giá trị duy nhất trong nhà là một chiếc quạt cây do Trung Quốc sản xuất.

Tôi hỏi về cái cối giã bằng sức nước. Chị bảo từ khi có điện, dân bản chuyển sang xay xát hết rồi. Hình như sự đổi thay chỉ có chừng đó. Nhưng tôi lại thấy tiếc cái cối nước. Phải chăng đó cũng chính là bản sắc đang bị mất dần ? Chị cho tôi biết anh Toan đang đi thả trâu trên rừng tối mới về, bây giờ anh đã già yếu lắm rồi. Các con chị đều đã lớn, hầu hết đều đã có gia đình riêng.

“Thế còn em Toan ?” Tôi nôn nóng hỏi. Chị buồn bã kể giờ đây em đã là một thiếu phụ có 5 con, nhà ở ngay đầu thôn ( Thay vì gọi là bản như trước kia. Thật tiếc ! ). Gia đình em bây giờ cũng rất nghèo, quanh năm suốt tháng em phải lao động quần quật, nhưng vẫn không đủ ăn. Tôi chợt thấy xót lòng, liệu nét đẹp như trăng của em năm xưa có còn vương vấn!

Một thanh niên bước lên sàn, chị bảo “Thằng Dũng, con út của chị đấy”. Rồi chị nói tiếp “Nó học giở lớp 11 thì bỏ, vì nhà nghèo quá không có tiền cho ăn học”. Hồi tôi ra quân, Dũng đang trong bụng mẹ, giờ đã là một thanh niên vạm vỡ, điển trai nhưng đôi mắt cậu lúc nào cũng buồn, kể cả khi cười…Trước khi tạm biệt, tôi nhờ bạn đồng nghiệp báo Lào Cai chụp giúp tôi tấm ảnh kỷ niệm với mẹ con chị. Sau đó, dẫu không muốn tôi cũng đành phải chia tay…

Sau hai mươi mốt năm,Tả Thàng giờ đã có điện, đường, trường, trạm…Nhưng cuộc sống của mỗi gia đình ở đây còn quá khó khăn vất vả. Trong tôi bỗng trào lên một nỗi niềm, nếu một mai có dịp trở lại tôi ước sẽ thấy Tả Thàng được khôi phục bản sắc cổ truyền, với những nếp nhà sàn và làn khói lam uốn lượn, với những chàng trai cô gái trong trang phục người Tày vui vẻ ném còn và hơn thế đó là không còn cảnh những người mẹ trẻ đông con, những trẻ em thất học và cảnh thiếu đói như gia đình anh chị Toan mà bây giờ tôi đang thấy. Mong sao đời sống của bà con các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa nơi chốn biên cương này được Đảng và Nhà nước chú ý đầu tư hơn nữa.

N.N.Đ

Advertisements

47 phản hồi to “Về lại bản xưa”

  1. Dân Cổng Chốt said

    TTG được quyền công bố:Tem!
    (TTG:Thông Tấn Giăng Van-Giăng)

  2. ha linh said

    tiện tay em ném cành hoa vào người tôi
    ————
    dễ thương quá!

  3. ha linh said

    hơn hai chục năm rồi nhưng dường như anh chị vẫn nghèo như thế, vẫn những bộ quần áo vắt lòng thòng, lá bùa dán ở vách, chõ xôi ở trên bếp…Tài sản có giá trị duy nhất trong nhà là một chiếc quạt cây do Trung Quốc sản xuất.
    ———-
    Xót xa nhất!

  4. Dân Cổng Chốt said

    Tôi cũng ở Lao cai 1 năm(từ 1968 đén 1969).Một năm,nhưng Lao cai với tôi có rất nhiều kỉ niệm.Năm đó Trường cấp 3 Nam đàn 1 sơ tán lên Tân kỳ.tôi không sơ tán theo trường mà ra Lao cai với Anh cả tôi(làm ở Ga Lao Cai từ 1955 đén hết 1978).Nhà anh tôi ở thị xã.Chỉ ngày thứ 7 và chủ nhật tôi mới về đó vì tôi ở Ký túc xá của cấp 3 thị xã Lao cai,những năm ấy sơ tán vào Bản Quang,xã Quang Kim,huyện Bát Xát.
    Dân Quang Kim 100%là Dân tộc Nhắng(dân tộc Giáy).Cả xã có trên 90% gia đình có người theo Phỉ.Hình như khi đó,xã hay HTX Quang Kim được phong Anh Hùng.Con suối qua xã này có tên là suối Quang Kim mang rất nhiều kỉ niệm của lớp học sinh cấp 3 chúng tôi.
    Cầu Cốc Lếu,nối Lao Cai với Cốc Lếu làm nên một Thị xã Lao Cai rất đẹp từ thuở ấy.Nước dưới cầu có màu xanh bên Lao Cai và màu đỏ bên Cốc Lếu, vì ảnh hưởng của dòng Nậm Thi trong xanh chưa kip hòa tan vào màu đỏ sông Hồng khúc qua Thị xã.
    Hehe!không sa đà nữa.Giá có tài văn như Mô thì tui cũng viết kỉ niệm về Lao cai rồi.Nhưng mà,thật tiếc…

    • said

      Anh viết hay rứa còn chi nữa.
      Hồi đó Mô cũng sống cùng với người Nhắng ở bản Quang này một tháng trời để trinh sát mở tuyến đường độc đạo giữa rừng nhằm mục đích nếu có chiến tranh sẽ sử dụng làm đường hành quân chiến đấu. Gia đình Mô ở có cô con gái tên là Hà Lê Mai,rất xinh đẹp và…iu Mô he he…Nhưng mà thôi, chuyện ni để Mô kể dần trong “Cuộc phiêu lưu…” kể chừ lộ bí mật hết 😀

  5. Hihihi, đọc xong …. bỗng dưng khóc !
    Nợ tiền bạc,… dễ trả, nợ ân tình như thế này nó day dứt lắm, có những lúc giật mình khi ngủ say,… anh em mình có nhiều cái giống nhau quá Mô@ à.

  6. Hà Bắc said

    Thế mà em cứ tưởng mình vớ được con nai…

  7. HAA! Bác mô ơi con gái Tày đẹp nhỉ, thời còn sinh viên em thương con nhỏ người Nùng da nó trắng hôbf mà đẹp

  8. levinhhuy said

    Truyện cảm động, làm em nổi gai cả người! Nhưng mà em buồn anh Mô: nghe tin người ta đã có con (mới 5 đứa chứ mấy!) mà anh trốn luôn không gặp mặt…

    • said

      Mô có trốn mô? Hôm đó sau khi ở nhà anh chị chủ nhà chơi xong, anh nhờ cậu con út của anh chị đến thăm em Toan. Tới nhà gặp ông bố chồng cho biết em Toan đang đi xay gạo. Đợi mãi không được nên đành phải về, vì lúc đó trời sắp tối mà về thành phố Lào Cao cách 25 km, anh em trong đoàn đang đợi. Tiếc thế chứ lị 😀

  9. bác Mô sướng thật, đi dân nhớ, ở dân thương. Chẳng bù cho bọn em, hồi đóng quân ở Văn quan, Lạng sơn phải dân vận rã họng ra mới xin được mấy cây tre, cây chuối. Hơn 20 năm rồi, chắc bây giờ ở đấy thay đổi nhiều lắm …

    • said

      Cũng tuỳ thôi, đa số thì bị dân…ghét, vì hồi đó bộ đội đói quá, toàn lấy trộm lúa và dưa của dân trồng trên nương, nên họ ghét lắm. Mô “ngoan” hơn nên được thương 😀

  10. Phay Van said

    Đọc bài này thấy buồn bác ạ. Người thiểu số thiệt thòi đủ đường.

    • said

      Thực ra sự nghèo đói cũng một phần do bản thân đồng bào gây nên. Một số nơi khi có gạo cứu trợ, nhẽ ra phải tiết kiệm thì họ lại nấu rượu uống, tiền cho vay mua giống, chăn nuôi thì lại đi mua các hàng xa xỉ…Vì thế giúp đỡ đồng bào không phải chỉ đơn giản là cứu trợ, mà phải làm sao làm cho họ thay đổi được nếp nghĩ, cách làm.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: