MÔ TÊ RĂNG RỨA

Là nơi cung cấp nước chè xanh và kẹo cu đơ

Sự cố Viking2 và mưu đồ của Bắc Kinh

Posted by CU MÔ trên 11.06.2011

Việt Long (ĐHQG Hà Nội)

Những sự kiện gần đây tại Biển Đông đang làm cho dư luận đặt câu hỏi: phải chăng Bắc Kinh đang áp dụng binh pháp Tôn Tử cố tình biến cái không thể thành có thể, biến các khu vực không tranh chấp thành các khu vực tranh chấp để đòi hỏi được chia phần tài nguyên trên thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng yếu thế thông qua công thức “gác tranh chấp cùng khai thác”.

Bắc Kinh đang dụng chiêu biến không thành có

Tôn Tử, chiến lược gia đại tài trong lịch sử Trung Quốc, nổi tiếng với thuật dùng binh, biến hư thành thực, thực thành hư, làm đối phương nghi kỵ, chia rẽ lẫn nhau, rơi vào thế bị động, qua đó đạt được mục tiêu khống chế của mình. Những người mê chuyện Tam Quốc, hẳn còn thán phục Khổng Minh trong thành rỗng dùng tiếng đàn đuổi hàng vạn hùng binh của Tư Mã Ý, hay Tào Tháo cố tình tẩy xóa thư gửi Hàn Toại, lấp lửng nửa kín nửa hở, gây nghi ngờ, chia rẽ chú cháu Hàn Toại, Mã Siêu để hai bên tự đánh nhau đi đến chỗ tan rã.

Những sự kiện gần đây tại Biển Đông đang làm cho dư luận đặt câu hỏi: phải chăng Bắc Kinh đang áp dụng binh pháp Tôn Tử cố tình biến cái không thể thành có thể, biến các khu vực không tranh chấp thành các khu vực tranh chấp để đòi hỏi được chia phần tài nguyên trên thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng yếu thế thông qua công thức “gác tranh chấp cùng khai thác”.

Sự kiện tàu Bình Minh 02 bị cắt cáp địa chấn trên thềm lục địa cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý được dư luận đánh giá là nghiệm trong vì 1) vụ việc xảy ra nằm sâu trong thềm lục địa và đặc quyền kinh tế mà quốc gia ven biển như Việt Nam được hưởng một cách hợp pháp theo Công ước Luật biển của Liên hợp quốc năm 1982; 2) do một lực lượng chấp pháp của một nước tiến hành có chủ ý; 3) xâm phạm tài sản công của một quốc gia độc lập có chủ quyền. Song dưới con mắt của các phát ngôn viên Trung Quốc thì đó là việc làm “bình thường và hợp lý ở khu vực biển thuộc thẩm quyển và quyền tài phán của Trung Quốc”. Thậm chí, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn yêu cầu Việt Nam “tránh tạo ra những sự cố mới”.

Tại Đối thoại Shangri-La ngày 3-5/6/2011, khi bị chất vấn, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc đã dùng tới 27 lần từ hòa bình trong phát biểu của mình và khẳng định “Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc không có hành động can dự nào vào sự việc vừa diễn ra”. Trung Quốc đang thực hiện chiến thuật vừa đấm vừa xoa. Họ nhiều lần khẳng định yêu chuộng hòa bình, sẵn sàng cùng các bên đàm phán. Trong khi Việt Nam đang chân thành mong muốn Trung Quốc thể hiện đúng như những gì mà Trung Quốc đã nói và cam kết thì các hoạt động trên biển lại càng trở nên phức tạp. Liên tục các tàu cá của Việt Nam và Philippines bị tấn công. Ngày 9/6/2011, tàu khảo sát địa chấn Viking 02 của Việt Nam lại tiếp tục bị tàu cá và tàu ngư chính của Trung Quốc quấy rối cắt cáp, phá chân vịt tại lô 136 thềm lục địa phía Nam. Vị trí lần này cũng chỉ cách đường cơ sở Việt Nam gần 100 hải lý.

Trước đó, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi lớn tiếng đổ lỗi cho Việt Nam: “Trung Quốc có chủ quyền không tranh cãi với quần đảo Trường Sa và lãnh hải gần đó. Trung Quốc và Việt Nam nhiều lần đã đạt được sự đồng thuận quan trọng về cách xử lý phù hợp các vấn đề hàng hải và duy trì ổn định ở Biển Đông. Chúng tôi hy vọng phía Việt Nam sẽ có các nỗ lực nghiêm túc để thực hiện những đồng thuận liên quan”. Một tuyên bố lấp lửng làm dư luận có thể hiểu nhầm Trung Quốc và Việt Nam đã có những đồng thuận và chính Việt Nam là bên không thực hiện. Rõ ràng Trung Quốc và Việt Nam đang tiến hành đàm phán thỏa thuận nguyên tắc về giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông. Điều này thể hiện thiện chí của Việt Nam, tuân thủ các nguyên tắc của luật quốc tế giải quyết hòa bình các tranh chấp, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Lập trường của Việt Nam gồm 4 điểm: 1) Việt Nam được quyền có thềm lục địa và đặc quyền kinh tế riêng từ đất liền Việt Nam không có tranh chấp, tách biệt với các vùng biển hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, 2) Hai quần đảo thuộc chủ quyền Việt Nam, 3) vùng biển của các đảo trong hai quần đảo được xác định theo Công ước luật biển năm 1982, cụ thể theo điều 121.3. Các đảo thuộc hai quần đảo này nếu có thềm lục địa và đặc quyền kinh tế thì cũng là những vùng biển hạn chế không thể có đầy đủ hiệu lực trong phân định như từ lãnh thổ đất liền, phù hợp nguyên tắc “đất thống trị biển”, 4) trong khi tìm kiếm một giải pháp cơ bản lâu dài, các bên tranh chấp ở Biển Đông cần kiềm chế, không mở rộng chiếm đóng mới, không có những hành động làm phức tạp thêm tình hình, hợp tác trong những lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học biển, phòng chống cướp biển theo đúng tinh thần của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC 2002.

Như vậy, đúng như người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trả lời : “Không có nhận thức chung nào nói rằng Trung Quốc có quyền cản trở các hoạt động của Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Chính hành động này của Trung Quốc đã đi ngược lại nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước”.

Đường lưỡi bò và lập luận lạ lùng

Vậy thực chất đằng sau những lời nói và việc làm trái ngược của Trung Quốc là gì? Tờ Trung Quốc nhật báo (China Daily) ngày 8/6/2011 đã không ngại ngùng bộc lộ. Tranh chấp Biển Đông (Trung Quốc gọi là biển Nam Trung Hoa) có ý nghĩa chiến lược quan trọng với Trung Quốc bởi hai lý do: Thứ nhất, Trung Quốc là nước lớn nhưng chưa phải là một siêu cường biển. Mặc dù có thềm lục địa và đặc quyền kinh tế rộng, bờ biển đất liền và đảo dài nhưng phần đóng góp của biển với GDP còn nhỏ. Chỉ với một số ít các đảo đang tranh chấp nằm dưới sự kiểm soát của mình, Trung Quốc không có đường để nối biển với đại dương. Thứ hai, không có một lực lương hải quân mạnh và sự chú trọng các quyền lợi biển, Trung Quốc vẫn ở vị thế không thuận lợi. Muốn trở thành một siêu cường có ảnh hưởng, Trung Quốc buộc phải chuyển từ “cường quốc đất liền” sang “siêu cường biển”. Và tranh chấp Biển Đông là phép thử thực tế cho việc đạt được mục tiêu đó. Để thực hiện ý đồ độc chiếm Biển Đông, không gì tốt hơn phương thức biến cái của người khác thành của mình, biến vùng biển không tranh chấp thành vùng biển có tranh chấp, đòi chia sẻ tài nguyên và quyền kiểm soát biển trên vùng biển của nước khác dưới chiêu thức ‘gác tranh chấp cùng khai thác”.

Tháng 5/2009 Trung Quốc lần đầu tiên đưa yêu sách đường lưỡi bò ra trước công chúng, trước Liên hợp quốc nhưng lại lớn tiếng cho rằng con đường này là đường lịch sử đã được cộng đồng quốc tế công nhận rộng rãi và toàn bộ các đảo, đá, bãi cạn nửa nổi nửa chìm, thậm chí đến cả các bãi chưa từng nổi lên cũng như các vùng nước liên quan, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển trong phạm vi con đường này thuộc quyền quản hạt của Trung Quốc. Có nhẽ chỉ những học giả Trung Quốc quen xem mình là trung tâm của thế giới mới có lập luận lạ lùng như vậy.

Tại Hội nghị luật biển lần thứ nhất năm 1958 trong danh sách các vùng nước, vịnh lịch sử của thế giới, đốt đuốc lên cũng chẳng thấy có văn bản nào ghi nhận cái đường lưỡi bò. Một con đường đứt đoạn, vẽ tùy ý, không tọa độ sao có thể là một ranh giới biển được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Khái niệm “vùng nước liên quan” cũng chỉ là sản phẩm riêng của Trung Quốc, không có trong Công ước Luật biển của Liên hợp quốc. Ngay sau khi Trung Quốc lưu chiểu tấm bản đồ này lên Liên hợp quốc, Việt Nam, Malaysia và muộn hơn là Philippines đã lên tiếng phản đối. Các nước không liên quan như Indonesia, Mỹ cũng đều phê phán tính vô lý của con đường.

Ngày 14/4/2011, Trung Quốc lại đưa ra lập luận mới, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng. Lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra yêu sách theo ngôn ngữ của luật biển quốc tế. Điều đó không có nghĩa là Trung Quốc từ bỏ đường lưỡi bò. Họ vẫn tiếp tục dùng cả đường lưỡi bò và luật biển khi cần thiết và để bổ trợ cho nhau. Lấy sự không rõ ràng làm cơ sở bào chữa cho các hành động vi phạm luật quốc tế của mình. Thực chất đường lưỡi bò giống như một đường chủ trương yêu sách lớn của Trung Quốc làm thế mặc cả cho những đàm phán giải quyết sau này. Càng mở rộng vùng tranh chấp vào sâu lãnh thổ hay vùng biển đối phương càng có lợi thế để mặc cả. Các nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc chẳng lấy gì làm lạ với chiến thuật biến không thành có này của Bắc Kinh.

Cạm bẫy “gác tranh chấp, cùng khai thác”

Bước thứ hai của chiến lược “biến cái không thể thành có thể” là tạo cớ, gây sức ép với các nước lân cận để khẳng định trên thực tế “đường lưỡi bò” của Trung Quốc. Đây là lý do vi sao gần đây Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động quấy rối. Từ việc đơn phương thiết lập lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông hàng năm từ 15/5 đến 31/8 tới các hoạt động cản trở tàu thuyền Việt Nam và Philippines trong tháng 3-tháng 6/2011, hay hoạt động dùng tàu ngầm đặt quốc huy dưới đáy biển Bãi cạn Tăng Mẫu gần Malaysia đầu năm 2011, các hoạt động này đều có một điểm chung là nằm trên ranh giới của “đường lưỡi bò”.

Bắc Kinh mong muốn dưới sức ép của cây gậy, các bên hữu quan sẽ phải chấp nhận củ cà rốt họ đưa. Đó là chủ trương “chủ quyền tại ngã, gác tranh chấp cùng khai thác”. Chủ trương này theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc gồm 4 yếu tố : 1) Chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ liên quan thuộc về Trung Quốc; 2) Khi điều kiện chưa chín muồi để có giải pháp cho tranh chấp chủ quyền, đàm phán về chủ quyền có thể hoãn lại để có thể gác tranh chấp sang một bên. Gác tranh chấp không có nghĩa từ bỏ chủ quyền. Nó chỉ là gác tranh chấp lại chờ thời gian thích hợp; 3) Khai thác chung các vùng lãnh thổ liên quan; 4. Mục đích của khai thác chung là nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau và tạo điều kiện cho giải pháp cuối cùng về chủ quyền lãnh thổ.

Như vậy “gác tranh chấp cùng khai thác” của Trung Quốc thực chất chỉ để phục vụ cho điều kiện thứ nhất “Chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ liên quan thuộc về Trung Quốc”. Chấp nhận “gác tranh chấp cùng khai thác”, tức chấp nhận đường yêu sách lưỡi bò của Bắc Kinh. Điều kiện chín muồi ở đây là thời điểm Bắc Kinh đủ sức để kiểm soát toàn bộ các vùng biển và lãnh thổ này trong phạm vi đường lưỡi bò. Trong khi chờ đợi điều kiện chín muồi này thì các bên cùng khai thác, tức Bắc Kinh có quyền ngang hàng với nước chủ nhà trong thăm dò, khai thác và quản lý các tài nguyên của họ. Khu vực gác tranh chấp cùng khai thác chỉ được đề xuất trên thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của nước khác mà Bắc Kinh chưa thể và không thể kiểm soát. Khu vực gác tranh chấp cùng khai thác không được Bắc Kinh chấp nhận ở những nơi họ đã giành được quyền kiểm soát một cách phi pháp như Hoàng Sa và một số khu vực ở Trường Sa.

Đã đến lúc đưa vấn đề ra LHQ

Đường lưỡi bò và gác tranh chấp cùng khai thác là hai yếu tố cấu thành của một chủ trương lớn độc chiếm Biển Đông. Các hành động mạnh bạo vừa qua là thể hiện ý chí của Trung Quốc áp đặt cho các nước xung quanh Biển Đông chấp nhận công thức đó. Phép thử của Trung Quốc ngày 26/5/2011 muốn nắn gân Việt Nam, Philippin, Hiệp hội các nước ASEAN, Mỹ và các nước khác có lợi ích ở Biển Đông. Phản ứng của Việt Nam, Philippin, Malaysia, Indonesia và Mỹ là tích cực. Các bên đều mong muốn Trung Quốc tôn trọng những gì đã cam kết, cần phải có một lộ trình rõ ràng nếu không sẽ có đụng độ.

Tuy nhiên những phản ứng đó có lẽ còn chưa đủ để ngăn cản những bước đi liều lĩnh của Bắc Kinh, tiếp tục xây dựng các công trình trên các bãi đá ngầm gần Philippin và cắt cáp của tàu Viking 02 trên thềm lục địa Việt Nam. Đã đến lúc Việt Nam và Philippin đưa vấn đề ra trước Liên hợp quốc hoặc cả hai nước cùng gửi Công hàm lên Liên hợp quốc. ASEAN dưới sự chủ tọa của Indonesia cần sớm có một Tuyên bố về tình hình Biển Đông như Tuyên bố năm 1992 mở đầu cho quá trình xây dựng Tuyên bố DOC.

Các nước có quyền lợi ở Biển Đông và ASEAN cần sớm đưa vấn đề giải thích và áp dụng điều 121.3 của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 về quy chế các đảo đá ra trước Hội nghị các nước thành viên Công ước Luật biển. Một trong những nguồn gốc làm phức tạp vấn đề Biển Đông chính là sự không rõ ràng của điều khoản này. Và tất cả những nước có thềm lục địa và đặc quyền kinh tế hợp pháp bị vi phạm cần kiên quyết thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình trước những hành động quá khích, đe dọa tính mạng và tài sản công. Có như thế điều không thể vẫn chỉ là không thể và công lý không bị xói mòn.

Nguồn: TVN

Advertisements

Một phản hồi to “Sự cố Viking2 và mưu đồ của Bắc Kinh”

  1. Đây là loạt tin mà tôi cho là …. DAI nhất. Như ông lão rụng hết răng gặm miếng gân bò……
    Mưu đồ thì đứa trẻ chăn trâu cũng biết, hành động khiêu khích tạo mưu đồ thì toàn dân đều biết, … vậy đăng báo làm chi nữa hè ?
    Cách giải quyết chấm dứt vấn đề đó – đó mới cần đăng báo !

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: