MÔ TÊ RĂNG RỨA

Là nơi cung cấp nước chè xanh và kẹo cu đơ

Cuộc phiêu lưu của Mô Tê Răng Rứa (31)

Posted by CU MÔ trên 24.06.2011

Cầu Hàm Rồng bị bom Mỹ đánh sập

Cuộc đời tôi là một chuyến phiêu lưu đầy mạo hiểm. Nếu một nửa sự thật là giả dối như người ta thường nói, thì một trăm phần trăm câu chuyện này giả dối như chính cuộc đời tôi.

Lại nói về chuyện sau khi ở nhà bác Giang tại thôn Kim Lũ, xã Đại Kim, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông được chừng 3 tháng, một hôm mẹ tôi từ Hà Nội về trò chuyện với bác tôi một lúc, rồi quyết định trở về Vinh.

Việc mẹ tôi trở về là có nguyên do của nó. Số là ban đầu mẹ tôi có ý định ở lại Hà Nội. Nhưng ngặt nỗi muốn ở lại thì phải tìm được việc làm kiếm sống, song muốn có việc làm thì phải có hộ khẩu thường trú. Quy định hồi đó là vậy.

Nhưng việc nhập hộ khẩu thường trú không đơn giản, vì muốn có hộ khẩu thì phải có nhà ở. Tuy nhiên, muốn có nhà ở thì phải có hộ khẩu. Nghĩa là tít mù lại lộn vòng quanh trong cái mớ bòng bong của pháp luật.  Vì thế, sau mọi nỗ lực, cuối cùng mẹ tôi vẫn không thể kiếm được việc làm cũng như hộ khẩu ở Hà Nội.

Lý do thứ hai khiến mẹ tôi quyết định trở về Vinh, ấy là một hôm mẹ tôi nhận được thư của chú Sô chồng của dì Thọ em kề mẹ tôi, chú báo tin trong một lần đi công tác ở huyện Hưng Nguyên, chú bắt gặp chị Mai và chị Lan tôi đang đi mò cua và sống rất thiếu thốn, khổ sở.

Mẹ tôi tìm hiểu được biết, sau khi chị Mai và chị Lan về ở với cậu tôi một thời gian, cậu tôi gửi hai chị cho ông bà nội. Do máy bay ném bom, nên ông bà nội phải sơ tán lên Thái Lão (Hưng Nguyên). Ở một thời gian, do không quen điều kiện sống nông thôn, nên ông bà nội tôi lại trở về Vinh, gửi hai chị lại cho nhà chủ.

Mặc dù hai chị tôi đều có sổ gạo do Nhà nước cấp, mỗi tháng 13 kg gạo cho mỗi người. Nhưng ông bà tôi chỉ cấp cho hai chị tôi mỗi ngày một lon gạo. Lúc này chị Mai đã lên 12 tuổi, chị Lan 9 tuổi. Tức là đang nằm trong cái tuổi ăn để mà lớn. Vì thế hai chị lúc nào cũng bị đói, phải đi mò cua bắt cá ăn thêm.

Hai lý do trên đã thôi thúc mẹ tôi trở về Vinh như vậy đó.

Vào một ngày cuối hạ năm 1965, mẹ con tôi khăn gói trở về Vinh. Chuyến trở về này cũng bằng xe đạp.

Anh Thập, con bác Cương (là bà bác mà tôi được mẹ gửi ở nhờ tại Hưng Nguyên mà tôi đã có dịp kể ở chương 29) lúc đó là sinh viên trường Đại học Bách khoa, nhân có người bạn cũng là sinh viên về Nghệ An, anh Thập đã nhờ người bạn đó giúp mẹ con tôi trở về Vinh.

Lần trở về này mẹ tôi đi một xe, anh bạn kia chở tôi.

Do thời gian này máy bay Mỹ chưa đánh phá Hà Nội và các khu vực xung quanh trong bán kính khoảng 100 km, nên việc đi lại khá thuận lợi. Thay vì đi ban đêm như lúc ở Nghệ An ra, chúng tôi đã tranh thủ đi ban ngày.

Không thể diễn tả được sự vui sướng của tôi khi được ngắm nhìn cảnh vật hai bên đường chúng tôi đi qua. Quốc lộ 1A lúc này đen đặc người đi lại náo nhiệt, ồn ã. Dòng người đi ra chủ yếu là những người sơ tán, dòng người đi vào chủ yếu là bộ đội và thanh niên xung phong.

Phải thừa nhận rằng, giai đoạn đầu của cuộc chiến, do chưa có thương vong, mất mát nhiều nên người ta vẫn sống vui tươi, hồ hởi và vô cùng lãng mạn. Trên dọc đường chúng tôi đi qua gần như tràn ngập tiếng cười của nam nữ thanh niên ra trận. Có lẽ đây cũng là mạch nguồn khơi dậy cảm xúc cho các nhà văn, nhà thơ miền Bắc sáng tác những tác phẩm thôi thúc lòng người chăng?

Ngày đầu tiên của chuyến đi diễn ra khá trôi chảy. Chúng tôi đã đi được quãng đường khoảng 100 km thì trời tối. Mẹ tôi và anh bạn quyết định nghỉ lại một đêm lấy sức rồi đi tiếp.

Tôi còn nhớ nơi chúng tôi nghỉ lại là một khu đất bằng phẳng bên đường. Lúc này ở đây đã có khá đông người sơ tán cũng dừng chân nghỉ lại như chúng tôi. Có lẽ vì vui, nên tôi chạy nhảy tung tăng, chỗ nào cũng sục tới. Không may cho tôi, do trời tối nên tôi sa xuống một cái hố tránh bom cá nhân người ta đào ở cạnh đường. Hôm đó trời vừa có cơn mưa to, nên hố ngập nước, vì thế tôi bị ướt như chuột lột.

Do túi đồ buộc chặt khó mở, nên mẹ tôi lấy một chiếc áo sơ mi của bà cho tôi mặc. Tôi còn nhớ đó là chiếc áo bằng vải phin, có in hoa màu đỏ, vàng sặc sỡ. Vì chiếc áo to, nên tôi mặc vào cứ lút lít thùng thình trông như một bó hoa di động. Đương nhiên, là bên dưới tôi không mặc gì rồi hi hi…

Sáng hôm sau, chúng tôi lại lên đường đi tiếp. Do sức yếu, nên chỉ bám theo được một quãng, mẹ tôi đành rơi lại và chúng tôi bắt đầu lạc nhau từ đó.

Mẹ tôi kể, trong ngày hôm đó mẹ tôi đã đi khá vất vả. Rất may gặp một chú bộ đội ở Quân khu IV, đi công tác ra Hà Nội trên đường trở về, gặp mẹ tôi đi một mình, chú đã đi kèm, hỗ trợ giúp. Nhưng khi đến Thanh Hoá, chú đành phải thông cảm với mẹ tôi rằng chú phải về Quân khu gấp. Sau khi bơm lại xe, buộc lại đồ và có bao nhiêu thực phẩm dự trữ gồm bánh chưng và trứng vịt luộc, chú đưa cho mẹ tôi hết bảo để mà ăn đường, rồi chia tay. Từ đó, mẹ tôi buộc phải đạp xe một mình trên còn đường đã bắt đầu nhuốm mùi đạn bom.

Vào giai đoạn này, khu vực Thanh Hoá, nhất là cầu Hàm Rồng, máy bay Mỹ thường xuyên ném bom đánh phá. Trong trí nhớ của tôi bây giờ còn in đậm một chiếc cầu Hàm Rồng cong queo, sứt mẻ nham nhở vì mảnh bom đạn. Khi anh bạn anh Thập đèo tôi đến đây, do ván cầu đã bị bom hất bay hết, anh phải vác xe đạp lên vai và chúng tôi đi bộ qua.

Việc qua cầu hoàn toàn không đơn giản, chúng tôi phải thận trọng đi trên những thanh tà vẹt đường sắt, Bạn hãy hình dung rằng nếu chỉ một sơ sẩy nhỏ có thể rơi tõm ngay xuống giòng sông Mã cuồn cuộn sóng.

May thay, mọi việc đều yên ổn, chúng tôi qua cầu an toàn và cũng thật hú vía khi vừa đi cách cầu Hàm Rồng chừng 3 km thì máy bay nhào tới đánh phá, cả một vùng trời ngầu đục vì khói bom và bùn đất.

Được cái, anh bạn của anh Thập rất tốt. Mặc dù chúng tôi đã mất liên lạc với mẹ tôi. Nhưng anh vẫn tỏ ra rất ân cần chu đáo với tôi. Còn tôi cũng tỏ ra rất biết điều. Mặc dù trong thâm tâm, tôi nhớ mẹ vô cùng và chỉ muốn khóc, muốn kêu lên và muốn chạy đi đâu đó để tìm mẹ. Nhưng bên ngoài tôi vẫn tỏ ra là một đứa con trai can đảm. Tôi rất biết vâng lời của anh. Có lẽ vì thế nên anh không nỡ mắng mỏ tôi chăng?

Cũng không biết lý do gì, nhưng  mẹ tôi đã vượt hai anh em lúc nào không biết. Tới thị trấn Diễn Châu, mẹ tôi vô cùng hoang mang khi không tìm thấy tôi. Lúc đó trời đã xâm xẩm tối. Mẹ tôi vào công an huyện Diễn Châu nhờ họ thông báo lên loa truyền thanh về đặc điểm nhận dạng của tôi và nhờ người dân trong vùng tìm kiếm giúp.

Chú công an thấy mẹ tôi tỏ ra mệt mỏi đã khuyên mẹ tôi nên nghỉ lại mai đi tiếp. Nhưng mẹ tôi cảm ơn và từ chối, vì lúc này bà không còn tâm trạng nào để ở lại nữa mà quyết định tiếp tục lên đường để tìm tôi.

May mắn thay, lúc đó tôi và anh bạn anh Thập đang ngồi nghỉ ở trong quán nước. Mặc dù trời tối lờ mờ, nhưng tôi vẫn nhận ra mẹ tôi đang đạp xe đi từ phía xa tới. Lập tức tôi kêu lên một tiếng thật to: “Mẹ…!” rồi lao tới.

Khỏi phải nói tâm trạng của mẹ tôi lúc bấy giờ. Bà cứ ôm lấy tôi mà khóc. Hai mẹ con cứ quấn lấy nhau mãi. Sau đó, mẹ tôi lấy bánh chưng và trứng vịt luộc (là những thứ được chú bộ đội cho) đem cho tôi và anh bạn anh Thập ăn, nhưng anh từ chối chỉ ăn một thanh kẹo lạc mẹ tôi mua ở quán.

Sau khi nghỉ ngơi một lúc, mọi người lại lên đường.

Tối khuya hôm đó, chúng tôi về tới Vinh. Anh bạn anh Thập lại tiếp tục cuộc hành trình sau khi bàn giao tôi lại cho mẹ.

Sau khi về nhà, mẹ tôi lên Hưng Nguyên tìm gặp hai chị tôi, rồi quyết định đưa tôi lên xã Nam Liên, huyện Nam Đàn ở với bác gái tôi là bà Lê Thị Chất, là chị gái đầu của mẹ tôi. Còn mẹ tôi ở lại chờ hai chị học nốt chương trình ở Hưng Nguyên sẽ lên sau.

Muốn biết cuộc sống của tôi trong thời gian ở Nam Liên, Nam Đàn ra sao, xem tiếp hồi sau sẽ rõ!

Advertisements

27 phản hồi to “Cuộc phiêu lưu của Mô Tê Răng Rứa (31)”

  1. Mr Tu said

    Lấy được cái tem của thầy Mô rùi

  2. Mr Tu said

    Tuổi thơ của thầy cũng có nhiều kỷ niệm … sờ sợ nhể

  3. Phay Van said

    Khổ thân bác Mô!

  4. Hà Bắc said

    Lâu rồi hôm nay anh mới cho ra đời tiếp cuộc phiêu lưu. Đúng là phiêu lưu trong cuộc hành trình trở về đầy những vất vả nhọc nhằn và lo lắng. May mà ông trời đã thương tình sớm cho hai mẹ con gặp lại nhau.
    Đành chờ anh kể tiếp cuộc đời mình trong phần sau.

  5. thang mo said

    Khổ thân , sao số phận cứ quăng quật bác Mô . Em theo dõi mà cứ giật mình thon thót . Số bác có khi ăn về hậu vận , chắc nhiều chị em cảm động , ưu ái lắm nhể .

  6. ha linh said

    Tuy nhiên, muốn có nhà ở thì phải có hộ khẩu. Nghĩa là tít mù lại lộn vòng quanh trong cái mớ bòng bong của pháp luật.
    ———
    giờ vẫn vậy phải không Mô?

  7. huongbuoi said

    Anh Mô ơi. Hồi đó mà biết anh đi ngang Diễn Châu thì em đã mời Bà cụ và anh vô nhà nghỉ ngơi rồi/ hic tiếc quá. Nếu không bây giờ, cuộc phiêu lưu của anh Mô thế nào cũng có nhắc tới tên em. hì.

  8. hth said

    Bác phải năng phiêu lưu lên một tý, hiihihihi

  9. Dân cổng chốt said

    He he…sắp lên đến nhà tớ rồi.Định đến lúc đằng ấy lên ở Nhờ quê Bác thì tớ mới “bắt nạt”,nhưng mà thôi,nói luôn:
    Vì Mô viết về mình khi còn nhỏ nên các tình tiết có thể nhớ hoặc nghe lại chưa được rõ.Đề nghị Mô coi lại mấy cái mốc thời gian ở số 25 đến số 31 ni rồi chỉnh lý cho nó chuẩn.Không quan trọng chi mấy,chỉ mùa xuân ,mùa hè hay là mỗi nơi rứa ở bao lâu…vậy thôi(có sai đó,nhưng không phải là…đại kỵ,hì hì!)
    Chờ coi những số tiếp.

    • Dân cổng chốt said

      Mô ạ,có người không thích góp ý đâu.Hôm nọ sau khi đọc bài của nhà văn Thùy Linh ở nhà Mô,Chốt mới mở Web của anh Tạo,cũng góp ý thì anh Tạo sửa giúp ngay.Hôm qua,đọc Blog ông Đào,Chốt cũng góp vậy(Chốt đề nặc danh),rứa mà có ông nào đó bực mình.May mà chị Thùy Linh vô đỡ.

      • said

        Góp ý là cần thiết và rất tốt chứ anh Chốt. Mô luôn rất mong được mọi người góp ý, vì trên thực tế người viết thường là viết theo chủ quan của mình, vì thế không thể tránh khỏi sai sót. Hơn nữa, bạn đọc khi người ta góp ý, nghĩa là người ta rất quan tâm và có ý thức xây dựng bài viết của tác giả, điều đó hết sức đáng quý và trân trọng. Một vấn đề nữa mà tác giả nên lưu ý rằng bạn đọc có nhiều người tuy người ta không viết, nhưng về trình độ thẩm định, nhận thức, kiến thức…hơn hẳn mình.
        Tuy nhiên, góp ý cũng có giới hạn của nó, ví dụ như góp ý mang tính xây dựng, củng cố kiến thức cho tác giả, cùng thảo luận giữa người đọc với tác giả, giữa bạn đọc với bạn đọc…là rất cần thiết. Nhưng một số người lợi dụng sự góp ý để thoá mạ, khích bác, xúc phạm tác giả và bạn đọc khác lại là điều hoàn toàn không nên.
        Mô thấy rằng anh Chốt và các anh chị, bạn bè lâu nay góp ý cho Mô đều rất chân thành và giúp Mô mở mang thêm được rất nhiều điều bổ ích! Cảm ơn anh Chốt rất nhiều!
        Nói thêm một ý: Riêng bài này, anh Chốt góp ý, Mô tiếp thu và trang bị thêm cho mình một hiểu biết mới, song Mô không dám sửa, vì không phải bài của mình, nếu tự động sửa sẽ vi phạm bản quyền, ngoại trừ có sự đồng ý của tác giả.

    • said

      Cảm ơn anh Chốt đã góp ý. Mô cũng đang có ý định kiểm tra lại mốc thời gian. Về năm thì đúng, nhưng về các tháng, quý có thể bị lẫn lộn…

  10. cú đỉn said

    Thời ấy, 2 chị Mô mỗi ngài hưởng 13 kg gạo ( đúng hơn là 13 kg lương thực vì còn độn khoai, sắn…) , vị chi là 26 kg một tháng .Vậy mà mỗi ngày họ chỉ được nhận từ ông , bà có 1 lon gạo ( ngày xưa đong gạo bằng lon , hơn 3 lon = 1 kg).2 đứa trẻ tuổi đang lớn mà xài 1 ngày có hơn 300 gam gạo thì… đói hoa mắt chóng mặt..phải mò cua bắt ốc phụ thêm là đúng rùi mô ạ. Chả nhẽ lại ..như rứa ? Ông bà tệ quá.

  11. Huhuhu, ……..
    Chị Mai chừ ở mô mà không thấy MÔ@ nói đến bao giờ ?
    Trước đó một năm là lão hâm lại di chuyển từ Nghĩa đàn ra thủ đô ( suối ngàn ) đó .
    Cơ man nào là khổ ….

    • said

      Dạ, chị Mai cũng ở Vinh anh Trà ạ. Mô đã nhắc tới chị mấy lần ở phần trên rồi đó, Những phần tới đây sẽ có chị Mai nhiều hơn ạ.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: